Ở các nước, việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước cũng theo quy trình chung như quy trình xây dựng các đạo luật khác, theo đó việc xem xét, thông qua của Quốc hội thường là giai đoạn cuối của việc quyết định chính sách do hành pháp đề xuất. Do đó, trên thực tế, vai trò của nghị viện ở nhiều nước phụ thuộc vào những yếu tố như mức độ xác lập nghị trình; giai đoạn ủy ban...
Thông thường nghị viện có toàn quyền xác lập nghị trình, nhưng thủ tục nghị viện một số nước giành một số quyền cho chính phủ trong việc xác định chương trình. Một số nước khác lại không cho chính phủ bất kỳ quyền về thủ tục nào trong việc này, nên chính phủ buộc phải dựa vào các nghị sỹ từ các đảng cầm quyền, hoặc dựa vào các quyết định đơn lẻ của chủ tịch nghị viện để đạt mục đích của mình.
Nếu không kiểm soát được nghị trình, có thể sẽ gặp khó khăn trong việc thông qua ngân sách quốc gia, ban hành một đạo luật đã hứa trước cử tri, hay thảo luận một vấn đề cấp bách mà không đảo lộn công việc thường ngày. Việc kiểm soát nghị trình tuân theo nguyên tắc cân bằng giữa “quyền quyết định của đa số và quyền được lắng nghe của thiểu số”. Vì thế, ở nghị viện nhiều nước, việc kiểm soát nghị trình xoay quanh những vấn đề có tính nguyên tắc như rút ngắn thời gian thảo luận; chọn thời điểm; quyền đệ trình các dự luật làm tăng chi ngân sách...
Ví dụ, thời gian là một nguồn lực khan hiếm của bất kỳ nghị viện nào. Vì vậy, yếu tố then chốt để kiểm soát nghị trình là việc kiểm soát thời gian, tức là nắm quyền sắp xếp thảo luận một vấn đề vào thời điểm nào trong phiên họp hoặc cả kỳ họp. Chỉ ở một số nước, chính phủ có thể tự mình hoặc dựa vào đa số trong chủ tịch đoàn để quyết định vấn đề này. Nói chung, hai cuộc khảo sát thực nghiệm ở 17 nghị viện các nước phương Tây cho thấy kết quả khá thú vị và khác với suy nghĩ chung. Đó là, sự kiểm soát của Chính phủ về mặt thủ tục đối với chương trình thảo luận ngân sách đã dẫn đến thâm hụt ngân sách ít hơn; và sự kiểm soát đó cũng góp phần làm giảm “lạm phát luật”, có nghĩa là gạn lọc nhiều dự luật nhỏ và thiếu thống nhất.
Một vấn đề quan trọng trong xác lập nghị trình là vai trò của các ủy ban. Ở Italy chẳng hạn, chính phủ phụ thuộc khá nhiều vào các ủy ban nghị viện trong việc xác lập chương trình, vì thủ tục nghị viện không cho phép quyền ưu tiên đối với các dự luật của chính phủ. Muốn được ưu tiên, chính phủ chỉ có cách thuyết phục chủ tịch nghị viện và các chủ nhiệm Ủy ban, nhưng chưa bao giờ thành công. Ủy ban ở Italy kiểm soát hoàn toàn việc quyết định đưa dự luật vào chương trình nghị sự của phiên họp toàn thể, thực thi quyền lực “gác cổng” của mình. Chính vì vậy, mặc dù có quyền sắp xếp thứ tự các điều khoản sửa đổi để biểu quyết, nói chung chính phủ Italy ít thực quyền kiểm soát chương trình nghị sự lập pháp. Còn ở Cộng hòa đệ Tứ trước đây ở Pháp, ủy ban cũng có thẩm quyền không đưa các dự luật do ủy ban xem xét vào nghị trình thảo luận toàn thể.
Tuy nhiên, nói chung, chỉ ở một số ít các nước, chẳng hạn, trong số 17 nước Tây Âu chỉ Đan Mạch, Iceland, Hà Lan và Thụy Điển, các ủy ban có thẩm quyền xác lập chương trình của mình mà không phụ thuộc vào chương trình tổng thể. Hiếm khi các ủy ban có quyền sáng kiến lập pháp, tức là tác động đến việc lập chương trình. Còn việc ủy ban tự sắp xếp các phiên điều trần của ủy ban dẫn đến sự thay đổi chương trình tổng thể cũng khá hạn chế, chẳng hạn chỉ có ở 5 trong số 17 nước Tây Âu. Ở 8 trên 17 nước, ủy ban có thể sửa đổi dự luật của chính phủ trình nghị viện; còn ủy ban ở 5 trên 17 nước này có thẩm quyền yêu cầu chính phủ cung cấp tài liệu.
Lê Anh