Chỉ số PCI đối với việc ban hành chính sách và tổ chức các hoạt động giám sát, chất vấn của HĐND tỉnh Bắc Ninh
Cập nhật : 9:18 - 22/05/2019
Chỉ số PCI do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa kỳ (USAID) tiến hành khảo sát ngày càng trở nên quen thuộc với nhiều địa phương và trở thành một chỉ báo tin cậy và khách quan về chất lượng điều hành cấp tỉnh. Thay vì những nghi ngại ban đầu, các địa phương, trong đó có tỉnh Bắc Ninh đã tích cực tìm hướng triển khai hành động để cải thiện môi trường kinh doanh thông qua kết quả PCI.

Tỉnh Bắc Ninh trong những năm qua đã đẩy mạnh cải cách hành chính, thu được nhiều kết quả quan trọng trong thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp. Năm 2018, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm (GRDP) tiếp tục tăng khá hai con số theo hướng bền vững, tăng 10,6% so với năm 2017 tạo động lực quan trọng xây dựng tỉnh Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2022. Tỉnh đã thu hút được 1.281 dự án đầu tư nước ngoài(FDI) còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư sau điều chỉnh đạt 17,2 tỷ USD; 1.279 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký 150.110 tỷ đồng.

Với phương châm “đồng hành cùng doanh nghiệp”, lấy thước đo niềm tin, sự hài lòng của nhà đầu tư là mục tiêu cốt lõi thúc đẩy phát triển kinh tế, các cấp chính quyền trong giai đoạn qua đã nỗ lực không ngừng trong cải cách thủ tục hành chính và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.

Hàng năm, tại các phiên họp đầu năm, HĐND đề ra Nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội đều nêu các giải pháp về cải thiện Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị về việc tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao chỉ số PCI. Theo đó, yêu cầu Thủ trưởng các Sở, ngành, địa phương tập trung bám sát các chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh về nhiệm vụ phát triển kinh tế, quyết liệt triển khai các nhiệm vụ cải thiện môi trường kinh doanh, khuyến khích và tạo điều kiện thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển; hỗ trợ, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp. Đồng thời, nâng cao nhận thức và trách nhiệm, tạo sự vào cuộc tích cực, chủ động đồng bộ của cả hệ thống chính trị, từng cơ quan, đơn vị trực thuộc và toàn thể cán bộ, công chức, viên chức về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh.

Tỉnh Bắc Ninh đã thực hiện nhiều sáng kiến cải thiện môi trường kinh doanh với các mô hình sáng tạo cũng được đưa vào áp dụng như: Mô hình bác sỹ doanh nghiệp được bắt đầu áp dụng từ năm 2016; Tổ công tác hỗ trợ doanh nghiệp của tỉnh do Chủ tịch UBND tỉnh đứng đầu; Thành lập Trung tâm hành chính công tỉnh, cấp huyện; Bộ công cụ chấm điểm các sở, ngành trong tỉnh trong việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh tại địa phương (DDCI) lần đầu tiên được công bố tháng 5/2017. Đây là công cụ giám sát từ doanh nghiệp đối với chất lượng điều hành của các sở, ngành, địa phương nhằm nâng cao hiệu quả cải cách thủ tục hành chính.
Với những sáng kiến trên, tỉnh Bắc Ninh luôn duy trì Chỉ số PCI trong nhóm những tỉnh tốt nhất, là tỉnh có kết quả môi trường kinh doanh ít biến động trong bối cảnh quy mô kinh tế GDP thuộc nhóm dẫn đầu cả nước là một dấu ấn quan trọng.

Ngày 28/3/2019, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã công bố Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2018, điểm Chỉ số PCI năm 2018 của tỉnh Bắc Ninh đạt 64,50 điểm (tăng 0,14 điểm), thứ bậc trên toàn quốc của tỉnh Bắc Ninh đạt 15/63 (tăng 2 hạng so với năm 2017) và đạt mức xếp hạng Khá.

Có thể nói với kết quả này, Chỉ số PCI Bắc Ninh đã cho thấy nỗ lực cải cách được ghi nhận với những tiến bộ đáng kể, thể hiện trên các góc độ: điểm số cao nhất từ trước đến nay; tính năng động của lãnh đạo tỉnh tăng cao, tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá UBND tỉnh năng động cao nhất từ trước đến nay đạt mức 84,69%; xu hướng giảm điểm của một số chỉ số bị đẩy lùi như các Chỉ số Cạnh tranh bình đẳng, Thiết chế pháp lý,.. Điểm rất quan trọng là Chỉ số PCI Bắc Ninh được đi kèm với những dòng vốn thu hút đầu tư lớn. Trong những năm qua, Bắc Ninh đã trở thành điểm sáng về thu hút FDI. Trong khảo sát của Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội, có nhiều yếu tố về môi trường kinh doanh được doanh nghiệp FDI ghi nhận như mức độ giảm chi phí không chính thức, chi phí thời gian, tính năng động tiên phong rất cao. 

Tuy nhiên môi trường kinh doanh ở Bắc Ninh năm 2018 cũng bộc lộ những hạn chế là khả năng thực hiện các sáng kiến cải cách của Lãnh đạo tỉnh ở cấp dưới triệt để; các yếu tố minh bạch dựa trên ứng dụng công nghệ thông tin, quản trị điện tử hạn chế; năng lực tương tác giữa doanh nghiệp và các Sở, ban, ngành và huyện thấp; một bộ phận cán bộ còn chưa thích ứng kịp với yêu cầu cải thiện môi trường kinh doanh và hiệu quả quản trị hành chính công; xuất hiện những khó khăn trong quản lý đầu tư, xây dựng, đất đai,..

Trên thực tế, môi trường kinh doanh của tỉnh Bắc Ninh được duy trì, yêu cầu cải cách được thực hiện thường xuyên nên HĐND tỉnh Bắc Ninh chưa ban hành Nghị quyết chuyên đề về cải thiện môi trường kinh doanh, nhưng thường xuyên sử dụng dữ liệu PCI để làm căn cứ xây dựng chính sách và tổ chức giám sát, thường xuyên chất vấn,…

Đối với các chính sách, HĐND tỉnh đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, trong đó tạo môi trường kinh doanh thuận lợi. Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp được ban hành được yêu cầu cao về minh bạch thủ tục; xây dựng và vận hành trung tâm hành chính công; chính sách hỗ trợ cán bộ TTHCC và một cửa cấp xã,.. Một số chính sách hỗ trợ điển hình như: Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp; hỗ trợ khởi nghiệp; hỗ trợ nông nghiệp; xây dựng chính phủ điện tử; ứng dụng CNTT; trung tâm HCC, chế độ khuyến khích TTHHC… 

Hội đồng Nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức các phiên chất vấn, trong đó các đại biểu thường xuyên có sử dụng Chỉ số PCI. Cuối năm 2018, một phiên chất vấn về Chỉ số PCI được truyền hình trực tiếp được nhiều đại biểu quan tâm. Nhiều đại biểu đặt các câu hỏi cải cách hành chính, đánh giá cán bộ liên quan đến đo lường của Chỉ số PCI như việc thanh tra kiểm tra trùng lắp; chi phí thời gian trong giải quyết các thủ tục hành chính, năng lực và tính năng động tiên phong, phong cách của cán bộ công chức, mức độ nhũng nhiễu trong giải quyết thủ tục hành chính của các Sở, ban, ngành. 

Các đại biểu đã sử dụng phối hợp Chỉ số PCI với Chỉ số DDCI Bắc Ninh để giám sát hoạt động của các Sở, ngành. Chất lượng điều hành của các Sở, ngành đều được thể hiện qua Chỉ số DDCI. Để xác định được cụ thể những ưu điểm, hạn chế về môi trường kinh doanh ở cơ quan, đơn vị nào và đâu là nguyên nhân của hạn chế đó thì cần tới những đánh giá chất lượng điều hành kinh tế ở cấp Sở, ban, ngành và cấp huyện, thị xã, thành phố (gọi chung là cấp huyện), nói cách khác là các cấp trực tiếp giải quyết các thủ tục hành chính, công việc liên quan đến doanh nghiệp, thể hiện kết quả tổng hợp những đánh giá của cộng đồng doanh nghiệp đối với các Sở, ngành, địa phương, phác họa được “bức tranh” về môi trường kinh doanh địa phương một cách hoàn toàn độc lập và khách quan.

Trong thời gian tới, HĐND tỉnh sẽ tiến hành giám sát nhằm đánh giá tác động của việc thực thi các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh ở các Sở, ngành lồng ghép với các giảm sát khác; dự kiến cuối năm 2019 tổ chức giám sát chuyên đề về các Chỉ số đo lường chất lượng quản trị địa phương như PCI, PAPI, DDCI Bắc Ninh.

Tiếp tục cải cách ở cấp Sở, ngành và cấp huyện; khai đồng bộ các biện pháp cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp, tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ, gắn với thực hiện tốt Chỉ thị số 10/CT –Ttg ngày 22 tháng 4 năm 2019 về việc xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc. Trên cơ sở đó sẽ yêu cầu UBND tỉnh, các Sở, thực hiện các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, tập trung vào việc sửa đổi các quy định về tiếp cận đất đai, quy trình, thủ tục đầu tư xây dựng, nâng cao năng lực hoạt động của Trung tâm hành chính công; thực hiện hiệu quả cơ chế 4 tại chỗ, chuẩn bị bố trí Phòng giải quyết tại chỗ của Lãnh đạo các Sở, ngành; Minh bạch thông tin chung về cơ sở dữ liệu quy hoạch, chính sách người dân và doanh nghiệp có thể tiếp cận tại Trung tâm HCC.

Các Sở Kế hoạch và Đầu tư, Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường, Công Thương, Ban quản lý các Khu công nghiệp thành  lập Tổ công tác thường trực do Giám đốc các đơn vị và các phòng liên quan giải quyết thủ tục về thủ tục đầu tư, xây dựng, đất đai, môi trường; theo dõi vướng mắc của doanh nghiệp; ban hành các chính sách mới hỗ trợ doanh nghiệp gia nhập thị trường như: hỗ trợ đăng ký kinh doanh và các hoạt động liên quan.

Thực hiện nghiêm Nghị định số 90/2013/NĐ-CP ngày 08/08/2013 của Chính phủ quy định trách nhiệm giải trình của cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Các cơ quan Nhà nước nâng cao trách nhiệm giải trình thông qua hoạt động chất vấn, trả lời chất vấn của HĐND các cấp; giải trình về phản ánh của cơ quan báo chí, truyền thông, ý kiến của nhân dân thông qua các Cổng thông tin điện tử tỉnh, các trang thông tin của Sở, ngành và phản ánh trực tiếp của nhân dân, doanh nghiệp; trả lời phản ánh, ý kiến của cử tri, doanh nghiệp. Ban Kinh tế - Ngân sách của HĐND phối hợp với Hiệp hội doanh nghiệp để kết nối kênh thông tin của cử tri là doanh nghiệp; từ đó tổ chức tiếp xúc cử tri chuyên đề với các doanh nghiệp nhằm nắm bắt được khó khan vướng mắc.

Tỉnh Bắc Ninh đang trên đà phát triển kinh tế - xã hội nhanh, có them nhiều tiềm lực mới nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương. HĐND tỉnh sẽ tiếp tuc thúc đẩy giải trình, tang cường giám sát các biện pháp cải cách hành chính và cải thiện môi trường kinh doanh dựa trên Chỉ số PCI./.

TTBD

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK